※ Bài viết này dựa trên pháp luật Nhật Bản và các tài liệu do Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú (ISA) công bố, tính đến ngày 9/10/2026.
Khi cả hai vợ chồng đều sống ở nước ngoài, Giấy chứng nhận tư cách cư trú (COE, 在留資格認定証明書) cho visa vợ/chồng (còn gọi là visa kết hôn; tư cách cư trú "Vợ/chồng/con của người có quốc tịch Nhật Bản" – 日本人の配偶者等) do người thân sống tại Nhật đứng ra làm người đại diện để xin. Nơi nộp hồ sơ là Cục Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú địa phương. Người có thể làm người đại diện được Lệnh của Bộ Tư pháp (法務省令) quy định là "người thân của đương sự, đang cư trú tại Nhật Bản" (本邦に居住する本人の親族).
Những tài liệu cần nộp khi không thể chứng minh chi phí sinh hoạt trong thời gian ở Nhật Bản bằng giấy chứng nhận thuế cư trú của Nhật được ghi trên trang của ISA. Bài viết này giải thích, theo các tài liệu đã công bố, về người có thể xin COE, hồ sơ cần nộp, quy trình đến khi nhập cảnh và thời gian xét duyệt.
Mục lục
- Khi cả hai vợ chồng đều ở nước ngoài, ai là người xin COE
- Hồ sơ cần nộp theo quy định của ISA
- Chứng minh chi phí sinh hoạt khi không nộp được giấy chứng nhận thuế cư trú
- Ai là người viết Giấy bảo lãnh
- Không có Phiếu chứng nhận cư trú thì làm thế nào
- Những điểm cần kiểm tra ở các giấy tờ khác
- Quy trình từ khi nộp hồ sơ đến khi nhập cảnh
- Thời gian xét duyệt và thời điểm nộp hồ sơ
- Khi không có người thân ở Nhật để nhờ
- Câu hỏi thường gặp
- Tóm tắt
- Tài liệu tham khảo
Khi cả hai vợ chồng đều ở nước ngoài, ai là người xin COE
Khi cả hai vợ chồng đều sống ở nước ngoài, người thân sống tại Nhật sẽ làm người đại diện để xin COE. Về nguyên tắc, nơi nộp hồ sơ là Cục Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú địa phương phụ trách khu vực có địa chỉ của người thân làm người đại diện.
Giấy chứng nhận tư cách cư trú là giấy tờ mà người nước ngoài sắp nhập cảnh Nhật Bản xin để được chứng nhận sẵn từ trước khi nhập cảnh rằng mình đáp ứng điều kiện nhập cảnh. Những người có thể xin được quy định như sau.
| Tư cách | Người thuộc trường hợp này |
|---|---|
| Chính người làm đơn | Người nước ngoài sắp nhập cảnh Nhật Bản (trong bài này là vợ/chồng là người nước ngoài) |
| Người đại diện | Người thân của người làm đơn, đang cư trú tại Nhật Bản |
| Người nộp hồ sơ thay (申請取次者) và những người tương tự | Hành chính thư sĩ, luật sư và những người khác đã khai báo với Cục Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú địa phương. Chỉ khi người làm đơn hoặc người đại diện đang ở Nhật Bản thì những người này mới có thể nộp giấy tờ thay cho người đó |
Nguồn: Luật Quản lý xuất nhập cảnh và công nhận người tị nạn (tiếng Nhật), Điều 7-2; Quy định thi hành Luật Quản lý xuất nhập cảnh và công nhận người tị nạn (出入国管理及び難民認定法施行規則) (tiếng Nhật), Điều 6-2 và Bảng đính kèm 4; Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Xin cấp Giấy chứng nhận tư cách cư trú" (tiếng Nhật)
Nếu vợ/chồng là người Nhật đang sống tại Nhật thì người đó sẽ làm người đại diện. Trong thời gian cả hai vợ chồng đều sống ở nước ngoài, vợ/chồng là người Nhật không thuộc diện "người thân đang cư trú tại Nhật Bản", vì vậy cần nhờ một người thân khác sống tại Nhật làm người đại diện.
Trong thời gian cả hai vợ chồng đều ở nước ngoài, kể cả khi nhờ hành chính thư sĩ thì vẫn cần có người đại diện. Lý do là vai trò của hành chính thư sĩ là nộp giấy tờ thay cho người làm đơn hoặc người đại diện khi người đó đang ở Nhật Bản.
Phạm vi "người thân" có thể làm người đại diện
Luật Quản lý xuất nhập cảnh và công nhận người tị nạn và Quy định thi hành luật này không quy định phạm vi "người thân" có thể làm người đại diện. Bộ luật Dân sự (民法) quy định người thân là "họ hàng huyết thống trong phạm vi 6 bậc quan hệ họ hàng (親等), vợ/chồng, và họ hàng bên vợ hoặc bên chồng trong phạm vi 3 bậc" (Điều 725 Bộ luật Dân sự).
Áp dụng định nghĩa của Bộ luật Dân sự thì bố mẹ của vợ/chồng là người Nhật là họ hàng bên vợ hoặc bên chồng bậc 1 của người làm đơn, còn anh chị em là họ hàng bên vợ hoặc bên chồng bậc 2. Các tài liệu đã công bố không ghi Cục có xét theo cùng phạm vi với Bộ luật Dân sự hay không (tính đến tháng 10/2026).
Trong hồ sơ mà văn phòng chúng tôi đã phụ trách, thuộc trường hợp cả hai vợ chồng đều sống ở nước ngoài, người thân đang sống tại Nhật của vợ/chồng là người Nhật đã làm người đại diện.
Khi người đại diện nộp giấy tờ, người đó xuất trình giấy tờ (như bản sao toàn bộ hộ tịch (戸籍謄本)) để Cục xác nhận mình là người có thể nộp hồ sơ.
Nguồn: Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Hỏi đáp về xét duyệt xuất nhập cảnh và cư trú" (tiếng Nhật), Q3 và Q4, "Tư cách cư trú "Vợ/chồng/con của người có quốc tịch Nhật Bản" (trường hợp là vợ/chồng)" (tiếng Nhật); Bộ luật Dân sự (tiếng Nhật), Điều 725
Hồ sơ cần nộp theo quy định của ISA
Danh sách hồ sơ cần nộp giống với trường hợp vợ/chồng là người Nhật đang sống tại Nhật. Trên trang của ISA không có danh sách riêng dành cho vợ chồng sống ở nước ngoài (tính đến tháng 10/2026).
| Hồ sơ cần nộp | Ghi chú trên trang của ISA |
|---|---|
| Đơn xin cấp Giấy chứng nhận tư cách cư trú (在留資格認定証明書交付申請書): 1 bản | Có thể tải về từ trang của ISA |
| Ảnh thẻ: 1 tấm | Ảnh đáp ứng quy cách được chỉ định |
| Bản sao toàn bộ hộ tịch (戸籍謄本; giấy chứng nhận toàn bộ nội dung, 全部事項証明書) của vợ/chồng là người Nhật: 1 bản | Bản có ghi việc kết hôn với người làm đơn. Nếu không ghi thì nộp thêm Giấy chứng nhận thụ lý đăng ký kết hôn (婚姻届出受理証明書) |
| Giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan của đất nước mà người làm đơn có quốc tịch (nước ngoài) cấp: 1 bản | Trường hợp được cấp bản sao hộ tịch, như người có quốc tịch Hàn Quốc v.v., thì cũng có thể nộp bản sao hộ tịch do cơ quan nước ngoài cấp, có ghi việc kết hôn của hai người |
| Tài liệu chứng minh chi phí sinh hoạt trong thời gian ở Nhật Bản | Giấy chứng nhận thuế cư trú (chịu thuế hoặc miễn thuế) (課税(非課税)証明書) và Giấy chứng nhận nộp thuế (納税証明書) của 1 năm gần nhất, của người chi trả chi phí sinh hoạt (bản có ghi tổng thu nhập và tình hình nộp thuế trong 1 năm): mỗi loại 1 bản |
| Giấy bảo lãnh (身元保証書) của vợ/chồng là người Nhật: 1 bản | "Người bảo lãnh phải là vợ/chồng (người Nhật) đang cư trú tại Nhật Bản." (身元保証人には、日本に居住する配偶者(日本人)になっていただきます。) |
| Bản sao Phiếu chứng nhận cư trú (住民票) có ghi toàn bộ thành viên trong hộ của vợ/chồng là người Nhật, do xã, phường, quận, thành phố cấp: 1 bản | Lược bỏ Số định danh cá nhân (My Number), các mục khác không được lược bỏ |
| Bản câu hỏi (質問書): 1 bản | Có thể tải về từ trang của ISA |
| Tài liệu cho thấy sự giao lưu giữa hai vợ chồng | 2–3 tấm ảnh chụp đời thường (ảnh chụp chung hai người, nhìn rõ diện mạo; không chấp nhận ảnh đã chỉnh sửa bằng ứng dụng). Ngoài ra là lịch sử trao đổi trên mạng xã hội, lịch sử cuộc gọi có thể nộp được |
| Phong bì hồi đáp ghi sẵn địa chỉ: 1 chiếc | Phong bì cỡ tiêu chuẩn, ghi địa chỉ người nhận và dán tem bưu chính dùng cho thư bảo đảm đơn giản (簡易書留) |
- Giấy chứng nhận được cấp tại Nhật phải là bản còn trong vòng 3 tháng kể từ ngày cấp
- Giấy tờ viết bằng tiếng nước ngoài phải kèm bản dịch tiếng Nhật
- Trong quá trình xét duyệt, có trường hợp bị yêu cầu nộp tài liệu không có trong danh sách
- Nếu cách ghi họ tên trên Giấy chứng nhận tư cách cư trú (COE) khác với họ tên trên hộ chiếu, thủ tục đến khi nhập cảnh có thể mất thời gian. Nếu nộp được thì khi nộp hồ sơ hãy nộp cả bản sao hộ chiếu
Nguồn: Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Tư cách cư trú "Vợ/chồng/con của người có quốc tịch Nhật Bản" (trường hợp là vợ/chồng)" (tiếng Nhật)
Khi cả hai vợ chồng đều sống ở nước ngoài, có trường hợp không thể chuẩn bị đúng như danh sách đối với 3 loại giấy tờ: giấy chứng nhận thuế cư trú, Giấy bảo lãnh và Phiếu chứng nhận cư trú. Ba phần tiếp theo giải thích cách xử lý từng loại.
Chứng minh chi phí sinh hoạt khi không nộp được giấy chứng nhận thuế cư trú
Những tài liệu cần nộp khi không thể chứng minh chi phí sinh hoạt trong thời gian ở Nhật Bản bằng giấy chứng nhận thuế cư trú được ghi trên trang của ISA.
Danh sách của ISA ghi người nộp giấy chứng nhận thuế cư trú là "người chi trả chi phí sinh hoạt của người làm đơn" (申請人の滞在費用を支弁する方). Tiếp đó, ISA hướng dẫn rằng nếu "do mới nhập cảnh chưa lâu, do chuyển nơi ở v.v." (入国後間もない場合や転居等により) mà không thể chứng minh chi phí sinh hoạt bằng các giấy chứng nhận này thì nộp những tài liệu sau đây và các tài liệu tương tự.
- Bản sao sổ ngân hàng
- Giấy chứng nhận dự kiến tuyển dụng hoặc Thông báo trúng tuyển (do công ty tại Nhật cấp)
- Tài liệu tương đương với các tài liệu trên
Theo trang này, bản sao sổ ngân hàng cũng có thể là bản in màn hình sổ ngân hàng trực tuyến v.v. (bản cho thấy lịch sử giao dịch). Tuy nhiên, chỉ chấp nhận bản được in ở trạng thái không thể chỉnh sửa; tệp Excel v.v. không được chấp nhận.
Trang này không có nội dung nào nêu đích danh trường hợp đang sống ở nước ngoài và không phải chịu thuế cư trú của Nhật (tính đến tháng 10/2026).
Cách xử lý khi không nộp được giấy chứng nhận thuế cư trú cũng có trong phần Hỏi đáp của ISA (câu hỏi chung của mục "Thủ tục trong thời gian cư trú" (在留中の手続)). Câu trả lời là tự soạn theo mẫu tùy ý một bản giải trình lý do (理由書) về việc không nộp được rồi nộp. Nếu có tài liệu tham khảo về thu nhập của năm gần nhất như Phiếu khấu trừ tại nguồn (源泉徴収票) hoặc bảng lương thì nộp kèm.
Trong hồ sơ mà văn phòng chúng tôi đã phụ trách, thuộc trường hợp cả hai vợ chồng đều sống ở nước ngoài, chúng tôi đã chuẩn bị những tài liệu sau.
- Bản sao sổ ngân hàng của hai vợ chồng (tài khoản yên Nhật và tài khoản ngoại tệ)
- Giấy chứng nhận thuế cư trú (chịu thuế) và Giấy chứng nhận nộp thuế, cùng Giấy xác nhận đang làm việc, của người thân đã làm người bảo lãnh
Nguồn: Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Tư cách cư trú "Vợ/chồng/con của người có quốc tịch Nhật Bản" (trường hợp là vợ/chồng)" (tiếng Nhật), "Hỏi đáp về xét duyệt xuất nhập cảnh và cư trú" (tiếng Nhật), Q26
Ai là người viết Giấy bảo lãnh
Trang của ISA không ghi ai sẽ làm người bảo lãnh (身元保証人) khi vợ/chồng là người Nhật đang sống ở nước ngoài (tính đến tháng 10/2026).
Trên trang của ISA chỉ có một câu: "Người bảo lãnh phải là vợ/chồng (người Nhật) đang cư trú tại Nhật Bản."
Trong hồ sơ mà văn phòng chúng tôi đã phụ trách, thuộc trường hợp cả hai vợ chồng đều sống ở nước ngoài, người thân đang sống tại Nhật của vợ/chồng là người Nhật đã làm người bảo lãnh.
Khi nhờ người thân, nếu nói trước nội dung trách nhiệm của người bảo lãnh thì người thân sẽ dễ quyết định có nhận lời hay không. Giấy bảo lãnh bảo đảm 3 điều: "chi phí sinh hoạt trong thời gian ở Nhật Bản" (滞在費), "chi phí về nước" (帰国旅費) và "tuân thủ pháp luật" (法令の遵守).
ISA giải thích rằng những điều đã bảo lãnh không có hiệu lực cưỡng chế về mặt pháp lý, và kể cả khi không thực hiện thì cơ quan chức năng cũng chỉ dừng ở mức nhắc nhở, hướng dẫn. Tuy nhiên, ISA cho biết trong trường hợp đó, người bảo lãnh sẽ mất uy tín xã hội, chẳng hạn bị coi là không đủ tư cách làm người bảo lãnh trong các hồ sơ xin nhập cảnh, cư trú về sau, nên việc bảo lãnh đặt ra trách nhiệm về mặt đạo đức.
Họ tên trên Giấy bảo lãnh do người bảo lãnh tự tay viết. Mẫu đơn của ISA không có ô đóng dấu.
Nguồn: Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Tư cách cư trú "Vợ/chồng/con của người có quốc tịch Nhật Bản" (trường hợp là vợ/chồng)" (tiếng Nhật), "Giấy bảo lãnh" (tiếng Nhật), "Hỏi đáp về xét duyệt xuất nhập cảnh và cư trú" (tiếng Nhật), Q53
Không có Phiếu chứng nhận cư trú thì làm thế nào
Giấy tờ nộp thay khi không nộp được Phiếu chứng nhận cư trú cũng không được ghi trên trang của ISA (tính đến tháng 10/2026). Người đã làm thông báo chuyển đi khi chuyển ra nước ngoài thì không có Phiếu chứng nhận cư trú tại bất kỳ xã, phường, quận, thành phố nào ở Nhật.
Trong hồ sơ mà văn phòng chúng tôi đã phụ trách, chúng tôi đã nộp "phụ lục hộ tịch" (戸籍の附票) của vợ/chồng là người Nhật. Phụ lục hộ tịch là bản ghi địa chỉ do xã, phường, quận, thành phố nơi đăng ký hộ tịch (本籍地) lập cho từng hộ tịch. Với người đã làm thông báo chuyển đi khi chuyển ra nước ngoài, trên đó có ghi "việc người này đã chuyển ra nước ngoài" (国外転出者である旨).
Bản sao phụ lục hộ tịch có thể do chính người đó yêu cầu cấp, ngoài ra vợ/chồng, bố mẹ và ông bà (người thân trực hệ bề trên), con và cháu (người thân trực hệ bề dưới) cũng có thể yêu cầu. Hành chính thư sĩ được ủy thác cũng có thể đề nghị cấp.
Cũng có cách yêu cầu cấp bản sao "Phiếu chứng nhận cư trú đã bị xóa" (住民票の除票) do xã, phường, quận, thành phố nơi ở cuối cùng lưu giữ. Thời hạn lưu giữ phiếu đã bị xóa là 150 năm kể từ ngày Phiếu chứng nhận cư trú bị xóa.
Thời hạn lưu giữ này cũng áp dụng cho những phiếu đã bị xóa mà xã, phường, quận, thành phố đang lưu giữ tại thời điểm ngày 20/6/2019. Những phiếu cũ không còn được lưu giữ tại thời điểm đó thì không thể được cấp.
Việc nộp phụ lục hộ tịch hay phiếu đã bị xóa không phải là điều do ISA chỉ định.
Nguồn: Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Tư cách cư trú "Vợ/chồng/con của người có quốc tịch Nhật Bản" (trường hợp là vợ/chồng)" (tiếng Nhật); Luật Sổ đăng ký cư dân cơ bản (住民基本台帳法) (tiếng Nhật), Điều 15-4, Điều 16, Điều 17 và Điều 20; Nghị định thi hành Luật Sổ đăng ký cư dân cơ bản (住民基本台帳法施行令) (tiếng Nhật), Điều 34, khoản 1; Nghị định của Chính phủ số 26 năm 2019, Quy định bổ sung, Điều 2, khoản 2
Những điểm cần kiểm tra ở các giấy tờ khác
Với Giấy chứng nhận kết hôn, Bản câu hỏi và Giấy chứng nhận không mắc bệnh lao (結核非発病証明書), việc chuẩn bị thay đổi tùy theo hoàn cảnh của hai vợ chồng và quốc tịch của người làm đơn.
Giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan của đất nước mà người làm đơn có quốc tịch cấp, và bản dịch
Giấy tờ bằng tiếng nước ngoài phải kèm bản dịch tiếng Nhật. ISA trả lời rằng ai dịch cũng được, miễn là bản dịch chính xác và có chữ ký của người dịch.
Nếu vì đã đăng ký kết hôn tại Nhật trước nên cơ quan của đất nước mà người làm đơn có quốc tịch không cấp Giấy chứng nhận kết hôn, hãy viết lý do không nộp được vào một văn bản theo mẫu tùy ý rồi nộp.
Tên gọi và hình thức của giấy chứng nhận khác nhau tùy theo từng nước.
Bản câu hỏi
Bản câu hỏi là giấy tờ dài 8 trang, trong đó ghi thời gian quen nhau và hoàn cảnh dẫn đến hôn nhân, ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp giữa hai vợ chồng, họ hàng v.v. Ở cuối, vợ/chồng của người làm đơn ký tên.
Về hoàn cảnh dẫn đến hôn nhân, mẫu đơn ghi rằng nếu không đủ chỗ để viết thì có thể ghi ra tờ giấy riêng.
Giấy chứng nhận không mắc bệnh lao (dành cho người có quốc tịch thuộc diện áp dụng)
Người làm đơn có quốc tịch của nước thuộc diện áp dụng phải nộp "Giấy chứng nhận không mắc bệnh lao" khi xin cấp Giấy chứng nhận tư cách cư trú. Đây là giấy chứng nhận do cơ sở y tế tại nước thuộc diện áp dụng, được Chính phủ Nhật Bản chỉ định, cấp. Thời hạn có hiệu lực về nguyên tắc là 180 ngày kể từ ngày khám, và có thể nộp bản sao.
| Quốc tịch của người làm đơn | Việc nộp Giấy chứng nhận không mắc bệnh lao |
|---|---|
| Philippines, Nepal | Bắt buộc đối với hồ sơ nộp từ ngày 23/6/2025 trở đi |
| Việt Nam | Bắt buộc đối với hồ sơ nộp từ ngày 1/9/2025 trở đi |
| Indonesia | Dự kiến bắt buộc đối với hồ sơ nộp từ ngày 4/1/2027 trở đi |
| Myanmar, Trung Quốc | Chưa xác định ngày bắt đầu áp dụng |
Các dòng về Indonesia, Myanmar và Trung Quốc là dự kiến tính đến tháng 10/2026.
Dù có quốc tịch thuộc diện áp dụng, nếu có thể xác nhận bằng giấy phép cư trú v.v. rằng nước hoặc vùng lãnh thổ đang sinh sống không phải là nước thuộc diện áp dụng thì người đó không thuộc diện phải nộp. Trong trường hợp này, nộp bản sao giấy phép cư trú v.v. của nước hoặc vùng lãnh thổ đang sinh sống và một bản giải thích.
Nguồn: Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Hỏi đáp về xét duyệt xuất nhập cảnh và cư trú" (tiếng Nhật), Q24 và Q51, "Bản câu hỏi" (tiếng Nhật), "Sàng lọc bệnh lao trước khi nhập cảnh" (tiếng Nhật)
Quy trình từ khi nộp hồ sơ đến khi nhập cảnh
Giấy chứng nhận tư cách cư trú có thời hạn có hiệu lực là 3 tháng; nếu không xin phép nhập cảnh (thủ tục tại sân bay khi đến Nhật) trong vòng 3 tháng kể từ ngày được cấp thì giấy sẽ mất hiệu lực. Từ khi nộp hồ sơ đến khi nhập cảnh, các bước diễn ra theo thứ tự sau.
- Nhờ người thân sống tại Nhật làm người đại diện và chuẩn bị đủ giấy tờ
- Người đại diện nộp hồ sơ tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú địa phương phụ trách khu vực có địa chỉ của mình (hành chính thư sĩ được ủy thác có thể nộp giấy tờ thay cho người đại diện)
- Cục Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú địa phương xét duyệt và cấp Giấy chứng nhận tư cách cư trú
- Gửi COE cho người làm đơn đang ở nước ngoài (COE nhận qua email có thể chuyển tiếp nguyên như vậy)
- Người làm đơn xuất trình COE tại Đại sứ quán, Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản (在外公館) và được cấp thị thực (visa dán vào hộ chiếu)
- Sang Nhật trong vòng 3 tháng kể từ ngày COE được cấp và xin phép nhập cảnh tại sân bay
Có thể nhận COE qua email khi nộp hồ sơ trực tuyến, và khi đã đăng ký người dùng trực tuyến từ trước rồi nộp hồ sơ tại quầy tiếp nhận. Hành chính thư sĩ đã khai báo với Cục Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú địa phương có thể xin cấp COE qua Hệ thống nộp hồ sơ cư trú trực tuyến.
Người làm đơn có thể xin thị thực và xin phép nhập cảnh bằng cách xuất trình email đã nhận trên điện thoại thông minh v.v.
Chỉ có COE thì chưa thể nhập cảnh. ISA hướng dẫn nhất định phải xin cấp thị thực tại Đại sứ quán hoặc Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản ở nước ngoài. COE cũng không phải là giấy bảo đảm việc nhập cảnh; nếu trong quá trình thẩm tra tại sân bay phát hiện hoàn cảnh đã thay đổi v.v. thì cũng có trường hợp không được cho phép nhập cảnh.
Bộ Ngoại giao giải thích rằng nếu có COE thì sẽ dễ được cấp thị thực tại Đại sứ quán hoặc Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản ở nước ngoài trong thời gian xử lý tiêu chuẩn (5 ngày làm việc). Việc cấp thị thực không được bảo đảm.
Việc cấp Giấy chứng nhận tư cách cư trú không mất lệ phí. Việc gia hạn thời gian cư trú sau khi nhập cảnh thì mất lệ phí. Mức lệ phí được tổng hợp trong bài Điều chỉnh lệ phí thủ tục về tư cách cư trú.
Nguồn: Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Hỏi đáp về xét duyệt xuất nhập cảnh và cư trú" (tiếng Nhật), Q4 đến Q6, "Xin cấp Giấy chứng nhận tư cách cư trú" (tiếng Nhật), "Về việc điện tử hóa Giấy chứng nhận tư cách cư trú" (tiếng Nhật), "Thủ tục trực tuyến đối với hồ sơ cư trú" (tiếng Nhật); Bộ Ngoại giao, "Thị thực đặc định: Vợ/chồng/con của người có quốc tịch Nhật Bản" (tiếng Nhật)
Thời gian xét duyệt và thời điểm nộp hồ sơ
Với Giấy chứng nhận tư cách cư trú diện "Vợ/chồng/con của người có quốc tịch Nhật Bản", thời gian trung bình toàn quốc từ khi hồ sơ được tiếp nhận đến khi được cấp là 106,5 ngày (hồ sơ được cấp COE trong tháng 7/2026). Thời gian xử lý tiêu chuẩn do ISA công bố là từ 1 đến 3 tháng.
Con số 106,5 ngày là mức trung bình chỉ tính những hồ sơ đã được cấp COE. Với hồ sơ bị yêu cầu bổ sung tài liệu, số ngày cho đến khi nộp tài liệu đó cũng được tính vào. Số ngày của từng Cục Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú địa phương không được công bố (tính đến tháng 10/2026).
Các hồ sơ mà văn phòng chúng tôi nộp trong phạm vi thẩm quyền của Cục Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú Tokyo được tổng hợp trong bài Xin COE visa vợ/chồng mất bao nhiêu tháng?.
Thời điểm nộp hồ sơ được quyết định bằng cách tính ngược từ 2 điều sau.
- ISA hướng dẫn nộp hồ sơ sớm, có dư thời gian, để kịp được cấp COE trước khi nhập cảnh
- COE có thời hạn có hiệu lực là 3 tháng. Kể cả khi được cấp sớm, cũng phải xin phép nhập cảnh tại sân bay trong vòng 3 tháng kể từ ngày được cấp
Nếu bạn đã có ngày muốn nhập cảnh, hãy tính ngược từ ngày đó số ngày xét duyệt và số ngày cần cho việc xin thị thực. Nếu nộp quá sớm, COE có thể được cấp trước ngày muốn nhập cảnh từ 3 tháng trở lên, và có trường hợp phải đẩy kế hoạch lên sớm. Trong các hồ sơ của văn phòng chúng tôi, có hồ sơ thuộc thẩm quyền của Cục Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú Tokyo mất từ nửa năm trở lên mới được cấp COE, vì vậy chúng tôi khuyên bạn nên nộp sớm.
Nguồn: Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Thời gian xử lý xét duyệt cư trú" (tiếng Nhật; hồ sơ được cấp COE trong tháng 7/2026), "Xin cấp Giấy chứng nhận tư cách cư trú" (tiếng Nhật), "Hỏi đáp về xét duyệt xuất nhập cảnh và cư trú" (tiếng Nhật), Q6
Khi không có người thân ở Nhật để nhờ
Nếu không có người thân ở Nhật để nhờ làm người đại diện, có một cách là vợ/chồng là người Nhật về nước trước và làm người đại diện.
Khi vợ/chồng là người Nhật sống tại Nhật, người đó sẽ làm người đại diện và người bảo lãnh, đồng thời cũng xin được Phiếu chứng nhận cư trú. Nếu vì mới về nước chưa lâu nên không thể chứng minh chi phí sinh hoạt bằng giấy chứng nhận thuế cư trú thì nộp bản sao sổ ngân hàng v.v. Sẽ có một khoảng thời gian hai vợ chồng sống xa nhau cho đến khi người làm đơn nhập cảnh.
Bộ Ngoại giao hướng dẫn rằng trong những trường hợp như vợ/chồng là người Nhật đang sống ở nước ngoài và không thể xin cấp COE tại Nhật, hãy trao đổi trước với Đại sứ quán hoặc Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản nơi sẽ xin thị thực. Cũng có thể xin thị thực trực tiếp tại Đại sứ quán hoặc Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản ở nước ngoài mà không có COE, nhưng theo Bộ Ngoại giao thì cần nhiều tài liệu và việc xử lý mất vài tháng.
Trường hợp cùng nhau nhập cảnh với tư cách cư trú ngắn hạn
Cách hai vợ chồng sang Nhật trước rồi chuyển từ cư trú ngắn hạn (短期滞在) sang visa vợ/chồng ngay tại Nhật về nguyên tắc không được chấp nhận. Luật Quản lý xuất nhập cảnh và công nhận người tị nạn quy định rằng việc thay đổi tư cách cư trú từ cư trú ngắn hạn sẽ không được cho phép nếu không dựa trên "lý do đặc biệt bất đắc dĩ" (やむを得ない特別の事情).
Kể cả khi COE được cấp trong lúc đang ở Nhật, chỉ riêng điều đó chưa được coi là lý do đặc biệt. Việc sang Nhật với tư cách cư trú ngắn hạn là để thực hiện các hoạt động của cư trú ngắn hạn, như thăm người thân. Nếu sống tại Nhật với tư cách vợ/chồng thì cần được cấp COE, xin thị thực tại Đại sứ quán hoặc Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản ở nước ngoài rồi nhập cảnh.
Cách nào phù hợp thay đổi tùy theo việc có người thân ở Nhật hay không, thời điểm muốn nhập cảnh và công việc của hai vợ chồng. Trong buổi tư vấn về visa vợ/chồng (Giấy chứng nhận tư cách cư trú) cho vợ chồng sống ở nước ngoài, chúng tôi sẽ cùng bạn kiểm tra về người đại diện và cách sắp xếp hồ sơ.
Nguồn: Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Hỏi đáp về xét duyệt xuất nhập cảnh và cư trú" (tiếng Nhật), Q3 và Q55, "Tư cách cư trú "Vợ/chồng/con của người có quốc tịch Nhật Bản" (trường hợp là vợ/chồng)" (tiếng Nhật); Bộ Ngoại giao, "Thị thực đặc định: Vợ/chồng/con của người có quốc tịch Nhật Bản" (tiếng Nhật); Luật Quản lý xuất nhập cảnh và công nhận người tị nạn, Điều 20, khoản 3
Câu hỏi thường gặp
Cần có bao nhiêu tiền tiết kiệm thì đủ?
Trang của ISA không ghi mức tiền chuẩn (tính đến tháng 10/2026). Điều ISA nêu là loại tài liệu: ngoài bản sao sổ ngân hàng còn có Giấy chứng nhận dự kiến tuyển dụng và Thông báo trúng tuyển do công ty tại Nhật cấp. Nếu bạn đã có việc làm tại Nhật thì nộp kèm cả tài liệu đó.
Đang ở nước ngoài thì có lấy được bản sao toàn bộ hộ tịch của Nhật không?
Có. Có cách nhờ bố mẹ hoặc ông bà đang ở Nhật yêu cầu cấp, và cách nhờ hành chính thư sĩ.
Bản sao toàn bộ hộ tịch có thể do chính người đó yêu cầu cấp, ngoài ra vợ/chồng, bố mẹ và ông bà, con và cháu cũng có thể yêu cầu, và cũng có thể nhận qua đường bưu điện (Điều 10 Luật Hộ tịch (戸籍法)). Hành chính thư sĩ được ủy thác có thể yêu cầu cấp khi cần thiết cho công việc nghiệp vụ (Điều 10-2, khoản 3 của luật này).
Khi nhập cảnh, thời gian cư trú sẽ là mấy năm?
Thời gian cư trú của tư cách "Vợ/chồng/con của người có quốc tịch Nhật Bản" là một trong các mức 5 năm, 3 năm, 1 năm hoặc 6 tháng. Mức nào được áp dụng là do nhân viên thẩm tra nhập cảnh quyết định khi cho phép nhập cảnh (Điều 9, khoản 3 Luật Quản lý xuất nhập cảnh và công nhận người tị nạn).
"Hướng dẫn xét duyệt nhập cảnh và cư trú" (入国・在留審査要領), văn bản dành cho nhân viên của Cục, nêu 5 điều kiện để cấp mức 5 năm và yêu cầu phải đáp ứng tất cả. Một trong số đó là việc hôn nhân và cuộc sống với tư cách vợ/chồng được dự đoán sẽ tiếp tục (chỉ giới hạn ở trường hợp thời gian sống chung sau khi kết hôn vượt quá 3 năm). Theo văn bản này, 3 điều kiện, trong đó có việc thực hiện nghĩa vụ khai báo, không áp dụng cho quyết định tại thời điểm nhập cảnh.
Tóm tắt
Khi cả hai vợ chồng đều sống ở nước ngoài, Giấy chứng nhận tư cách cư trú cho visa vợ/chồng do người thân sống tại Nhật làm người đại diện để xin. Danh sách hồ sơ cần nộp là chung, và nếu không thể chứng minh chi phí sinh hoạt bằng giấy chứng nhận thuế cư trú thì nộp bản sao sổ ngân hàng v.v. Cách xử lý Giấy bảo lãnh và Phiếu chứng nhận cư trú không được ghi trên trang của ISA, vì vậy cần sắp xếp tài liệu cho phù hợp với hoàn cảnh của hai vợ chồng.
COE có thời hạn có hiệu lực là 3 tháng, và thời gian trung bình toàn quốc đến khi được cấp là 106,5 ngày (hồ sơ được cấp COE trong tháng 7/2026). Nếu kiểm tra trước việc có người thân ở Nhật để nhờ làm người đại diện hay không và ngày muốn nhập cảnh, bạn sẽ dễ quyết định thời điểm nộp hồ sơ.
Tài liệu tham khảo
- Luật Quản lý xuất nhập cảnh và công nhận người tị nạn (tiếng Nhật), Điều 7-2; Điều 9, khoản 3; Điều 20, khoản 3
- Quy định thi hành Luật Quản lý xuất nhập cảnh và công nhận người tị nạn (tiếng Nhật), Điều 6-2, Bảng đính kèm 2 và Bảng đính kèm 4
- Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Xin cấp Giấy chứng nhận tư cách cư trú" (tiếng Nhật)
- Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Tư cách cư trú "Vợ/chồng/con của người có quốc tịch Nhật Bản"" (tiếng Nhật), "Như trên (trường hợp người nước ngoài (người làm đơn) là vợ/chồng của người Nhật)" (tiếng Nhật)
- Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Giấy bảo lãnh" (tiếng Nhật), "Bản câu hỏi" (tiếng Nhật) (mẫu đơn)
- Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Hỏi đáp về xét duyệt xuất nhập cảnh và cư trú" (tiếng Nhật), Q3 đến Q6, Q24, Q26, Q51, Q53 và Q55
- Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Sàng lọc bệnh lao trước khi nhập cảnh (dành cho người có quốc tịch Philippines, Nepal, Việt Nam và Indonesia)" (tiếng Nhật)
- Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Về việc điện tử hóa Giấy chứng nhận tư cách cư trú" (tiếng Nhật), "Thủ tục trực tuyến đối với hồ sơ cư trú" (tiếng Nhật)
- Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Thời gian xử lý xét duyệt cư trú" (tiếng Nhật; hồ sơ được cấp COE trong tháng 7/2026)
- Bộ Ngoại giao, "Thị thực đặc định: Vợ/chồng/con của người có quốc tịch Nhật Bản" (tiếng Nhật; tháng 3/2023)
- Bộ luật Dân sự (tiếng Nhật), Điều 725
- Luật Sổ đăng ký cư dân cơ bản (tiếng Nhật), Điều 15-4, Điều 16, Điều 17 và Điều 20; Nghị định thi hành Luật Sổ đăng ký cư dân cơ bản (tiếng Nhật), Điều 34, khoản 1; Nghị định của Chính phủ số 26 năm 2019, Quy định bổ sung, Điều 2, khoản 2
- Luật Hộ tịch (tiếng Nhật), Điều 10 và Điều 10-2, khoản 3
- Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Hướng dẫn xét duyệt nhập cảnh và cư trú" (入国・在留審査要領), Phần 12, Chương 2, Mục 28 (tài liệu được công khai; không được đăng trên trang web của ISA)




