※ Bài viết này dựa trên pháp luật Nhật Bản và các tài liệu do Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú (ISA) công bố, tính đến ngày 9/10/2026, và trên pháp luật Việt Nam (đến Thông tư số 09/2026/TT-BNV, có hiệu lực thi hành từ ngày 30/6/2026).
Hợp đồng cung ứng lao động (労働者提供契約) là hợp đồng mà doanh nghiệp tiếp nhận mới lao động kỹ năng đặc định (特定技能外国人) từ Việt Nam ký với cơ quan phái cử đã được Chính phủ Việt Nam cấp phép (doanh nghiệp dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, gọi tắt là "doanh nghiệp dịch vụ"). Hợp đồng quy định ngành nghề tuyển dụng, số lượng người, điều kiện lao động, cùng các khoản chi phí mà doanh nghiệp tiếp nhận phải chịu.
Thông tư của Việt Nam quy định 3 khoản chi phí mà doanh nghiệp tiếp nhận phải chịu: phí phái cử, vé máy bay từ Việt Nam và chi phí đào tạo. Phí phái cử tối thiểu là 1 tháng tiền lương cơ bản. Trường hợp tuyển dụng người đang cư trú tại Nhật Bản thì hợp đồng này không xuất hiện trong quy trình thủ tục.
Mục lục
- Hợp đồng cung ứng lao động là gì
- 3 khoản chi phí doanh nghiệp tiếp nhận phải chịu
- Quy định về mức tiền căn cứ vào Thông tư nào
- Mức trần tiền dịch vụ mà người lao động trả cho cơ quan phái cử
- Quy định phía Nhật Bản: cấm thu tiền đặt cọc và việc kiểm tra chi phí người lao động đã trả
- Vì sao phần chi phí của doanh nghiệp tiếp nhận được quy định
- Những điều cần kiểm tra trước khi ký hợp đồng
- Trường hợp tuyển dụng người đang cư trú tại Nhật Bản
- Câu hỏi thường gặp
- Tóm tắt
- Tài liệu tham khảo
Hợp đồng cung ứng lao động là gì
Hợp đồng cung ứng lao động là hợp đồng do doanh nghiệp tiếp nhận và cơ quan phái cử được cấp phép (認定送出機関) của Việt Nam ký kết, quy định các điều kiện cung ứng và tiếp nhận lao động. ISA hướng dẫn rằng, theo chế độ của phía Việt Nam, việc ký hợp đồng này được yêu cầu khi tiếp nhận mới lao động kỹ năng đặc định từ Việt Nam.
Sau khi ký hợp đồng, thông qua cơ quan phái cử được cấp phép, hợp đồng được đề nghị Cục Quản lý lao động ngoài nước (DOLAB), Bộ Nội vụ Việt Nam chấp thuận. Luật của Việt Nam quy định cơ quan phái cử chỉ được thực hiện hợp đồng sau khi đã được chấp thuận.
Sau khi được chấp thuận, cơ quan phái cử tuyển chọn lao động, và doanh nghiệp tiếp nhận ký hợp đồng lao động. Các bước tiếp theo, gồm Danh sách lao động kỹ năng đặc định (Danh sách xác nhận. 推薦者表; danh sách lao động kỹ năng đặc định được Chính phủ Việt Nam xác nhận) và hồ sơ phía Nhật Bản, được tổng hợp trong bài Danh sách lao động kỹ năng đặc định (Danh sách xác nhận) cho người Việt Nam là gì?.
- Thời hạn của hợp đồng, số lượng người lao động, lĩnh vực, ngành nghề, nội dung công việc, địa điểm làm việc
- Điều kiện lao động, thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi, an toàn, vệ sinh lao động
- Tiền lương và các chế độ khác, tiền làm thêm giờ, các khoản khấu trừ từ tiền lương
- Điều kiện ăn, ở, đi lại đến nơi làm việc, khám sức khỏe, bảo hiểm xã hội
- Tiền dịch vụ được bên nước ngoài tiếp nhận lao động chi trả (nếu có), trách nhiệm trả chi phí đi lại giữa Việt Nam và nơi làm việc
- Điều kiện chấm dứt hợp đồng và bồi thường thiệt hại, cách giải quyết tranh chấp
Nguồn: Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Thông tin về Việt Nam" (tiếng Nhật), "Giải thích thủ tục" (tiếng Nhật); Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, "Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Luật số 69/2020/QH14), bản dịch tạm tiếng Nhật" (tiếng Nhật), Điều 19, Điều 20
3 khoản chi phí doanh nghiệp tiếp nhận phải chịu
Đối với doanh nghiệp tiếp nhận lao động từ Việt Nam theo diện Kỹ năng đặc định (特定技能), các khoản chi phí mà Phụ lục II của Thông tư quy định là 3 khoản: phí phái cử, vé máy bay và chi phí đào tạo. Phụ lục II của Thông tư số 09/2026/TT-BNV của Bộ Nội vụ Việt Nam (có hiệu lực thi hành từ ngày 30/6/2026) quy định các khoản này là nội dung của hợp đồng cung ứng lao động đối với thị trường Nhật Bản.
| Khoản chi phí | Quy định tại Phụ lục II | Phương thức thanh toán |
|---|---|---|
| Phí phái cử (tiền dịch vụ mà bên nước ngoài tiếp nhận lao động trả cho doanh nghiệp dịch vụ) | Tối thiểu 1 tháng tiền lương cơ bản (tính cho mỗi hợp đồng, mỗi người) | Chuyển khoản vào tài khoản của doanh nghiệp dịch vụ |
| Vé máy bay | Bên nước ngoài tiếp nhận lao động chi trả vé máy bay từ Việt Nam đến nơi làm việc cho người lao động | Không quy định |
| Chi phí đào tạo | Chi phí đào tạo để đáp ứng yêu cầu của phía Nhật Bản. Mức tối thiểu là 50.000 yên/người để đào tạo ngoại ngữ và 50.000 yên/người để bồi dưỡng kỹ năng nghề | Bên nước ngoài tiếp nhận lao động chuyển khoản vào tài khoản của doanh nghiệp dịch vụ |
Phụ lục II quy định mức tối thiểu. Thông tư quy định nội dung hợp đồng do doanh nghiệp dịch vụ và bên nước ngoài tiếp nhận lao động thỏa thuận, nhưng phải đảm bảo các điều kiện tối thiểu này. Phụ lục II không có quy định về mức trần.
Căn cứ tính phí phái cử là "tiền lương cơ bản". Phụ lục II không ghi rõ khoản tiền nào được coi là tiền lương cơ bản. Trong hợp đồng, hãy kiểm tra bằng con số cụ thể khoản tiền được dùng làm căn cứ.
Chưa có bản dịch tiếng Nhật của Thông tư này do cơ quan nhà nước công bố (tính đến ngày 9/10/2026). Những phần viết về Thông tư 09/2026 trong bài này là do văn phòng chúng tôi tự đọc từ bản gốc đăng trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (Hệ thống văn bản). Văn bản có giá trị pháp lý là bản gốc tiếng Việt.
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (Hệ thống văn bản), "Thông tư số 09/2026/TT-BNV" (ngày 15/5/2026), Điều 1, mục II Phụ lục II
Quy định về mức tiền căn cứ vào Thông tư nào
Quy định về chi phí được đặt tại Phụ lục II của Thông tư 21/2021 ban hành năm 2021, và đã được thay thế vào năm 2024 và năm 2026. Một số tài liệu cũ vẫn giải thích theo câu chữ của năm 2021.
| Thông tư | Quy định về chi phí đào tạo đối với kỹ năng đặc định |
|---|---|
| Thông tư 21/2021 (ngày 15/12/2021) | Doanh nghiệp dịch vụ không thu chi phí đào tạo của người lao động. Bên nước ngoài tiếp nhận lao động chi trả toàn bộ, mức tối thiểu là 100.000 yên/người. Cũng có quy định về người lao động đã có sẵn ngoại ngữ và kỹ năng nghề |
| Sửa đổi theo Thông tư 02/2024 (ngày 23/2/2024) | Chi phí đào tạo tiếng Nhật tối thiểu từ 50.000 yên/người trở lên, chi phí đào tạo kỹ năng nghề tối thiểu từ 50.000 yên/người trở lên |
| Thông tư 09/2026 (ngày 15/5/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 30/6) | Tối thiểu 50.000 yên/người để đào tạo ngoại ngữ và tối thiểu 50.000 yên/người để bồi dưỡng kỹ năng nghề |
Nội dung có trong mục chi phí đào tạo của Phụ lục II hiện hành là quy định về mức tối thiểu mà bên nước ngoài tiếp nhận lao động chi trả và về phương thức thanh toán. Câu "doanh nghiệp dịch vụ không thu chi phí đào tạo của người lao động" và quy định về người lao động đã có sẵn ngoại ngữ, kỹ năng nghề trong Thông tư năm 2021 không có trong Phụ lục II hiện hành.
Quy định về phí phái cử (tối thiểu 1 tháng tiền lương cơ bản) và về vé máy bay có nội dung giống nhau giữa Thông tư năm 2021 và Thông tư năm 2026.
Thông tư 09/2026 cũng có quy định về hợp đồng có từ trước ngày Thông tư có hiệu lực. Hợp đồng cung ứng lao động đã đăng ký, được chấp thuận trước ngày 30/6/2026 mà người lao động chưa xuất cảnh, nếu có nội dung khác với Thông tư thì phải được sửa đổi, bổ sung hoặc ký kết mới.
Nguồn: Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, "Thông tư 21/2021 (bản dịch tạm tiếng Nhật), bảng so sánh cũ – mới của Thông tư 02/2024 (bản dịch tạm)" (tiếng Nhật); Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (Hệ thống văn bản), "Thông tư số 09/2026/TT-BNV", Điều 2, Điều 3, Phụ lục II
Mức trần tiền dịch vụ mà người lao động trả cho cơ quan phái cử
Cơ quan phái cử không được thu tiền dịch vụ từ người chuyển sang Kỹ năng đặc định sau khi hoàn thành Thực tập kỹ năng số 2 hoặc số 3 (技能実習2号・3号). Phụ lục XI của Thông tư 09/2026 quy định mức trần trong trường hợp này là 0 đồng. 0 đồng là mức trần tiền dịch vụ; các khoản chi phí khác được quy định riêng.
| Đối tượng | Mức trần tiền dịch vụ mà cơ quan phái cử được thu từ người lao động | Căn cứ |
|---|---|---|
| Người hoàn thành chương trình Thực tập kỹ năng số 2 hoặc số 3 rồi làm việc theo diện Kỹ năng đặc định | 0 đồng | Phụ lục XI Thông tư 09/2026 |
| Lao động kỹ năng đặc định không thuộc dòng trên (người đỗ kỳ thi, v.v.) | Không quá 1 tháng tiền lương cho mỗi 12 tháng thời hạn hợp đồng. Hợp đồng từ 36 tháng trở lên thì không quá 3 tháng tiền lương | Điều 23, khoản 4 Luật số 69/2020 (theo cách hiểu của văn phòng chúng tôi) |
Dòng thứ 2 là cách hiểu của văn phòng chúng tôi: vì Phụ lục XI chỉ có quy định ở dòng thứ 1 về Kỹ năng đặc định của Nhật Bản, nên chúng tôi hiểu rằng mức trần chung của Luật được áp dụng.
Luật quy định, trường hợp bên nước ngoài tiếp nhận lao động đã trả tiền dịch vụ thì chỉ được thu từ người lao động phần còn thiếu so với mức đã thỏa thuận. Tức là phần bên nước ngoài tiếp nhận lao động đã trả được trừ vào số tiền người lao động phải chịu.
Mức trần giá dịch vụ theo hợp đồng môi giới mà cơ quan phái cử trả cho tổ chức, cá nhân trung gian, đối với thị trường Nhật Bản, cũng là 0 đồng cho mọi ngành, nghề (Phụ lục X Thông tư 09/2026).
Tại Việt Nam, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật này đã được Quốc hội thông qua ngày 24/8/2026 và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027. Chúng tôi chưa xác nhận được các điều khoản sau khi sửa đổi (tính đến ngày 9/10/2026).
Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (Hệ thống văn bản), "Thông tư số 09/2026/TT-BNV", Phụ lục X, Phụ lục XI; Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, "Luật số 69/2020/QH14, bản dịch tạm tiếng Nhật" (tiếng Nhật), Điều 23; Báo Điện tử Chính phủ, "Thông qua Luật sửa đổi (ngày 24/8/2026)"
Quy định phía Nhật Bản: cấm thu tiền đặt cọc và việc kiểm tra chi phí người lao động đã trả
Pháp luật Nhật Bản không cho phép thu tiền đặt cọc của người lao động, và đối với chi phí người lao động đã trả cho cơ quan ở nước ngoài thì yêu cầu người đó đã hiểu số tiền, chi tiết các khoản và đồng ý. Doanh nghiệp tiếp nhận ở vị trí phải kiểm tra không chỉ số tiền mình trả mà cả số tiền người lao động đã trả cho cơ quan phái cử.
- Người lao động, thân nhân v.v. không bị quản lý tiền hoặc tài sản khác dưới bất kỳ danh nghĩa nào, như việc thu tiền đặt cọc
- Không có, và cũng không dự kiến có, việc ký hợp đồng dự định chuyển giao tiền hoặc tài sản khác một cách bất chính, như hợp đồng quy định tiền phạt vi phạm hợp đồng khi không thực hiện hợp đồng lao động
- Trường hợp người lao động đã trả chi phí cho cơ quan ở nước ngoài liên quan đến việc trung gian làm thủ tục đăng ký hợp đồng lao động hoặc việc chuẩn bị cho hoạt động, người đó đã đồng ý sau khi hiểu đầy đủ về số tiền và chi tiết các khoản chi phí
- Doanh nghiệp tiếp nhận không ký hợp đồng lao động trong khi biết có việc thu tiền đặt cọc hoặc có hợp đồng về tiền phạt vi phạm hợp đồng
Hướng dẫn vận dụng (運用要領) của ISA nêu rằng, nếu doanh nghiệp tiếp nhận biết có việc thu tiền đặt cọc hoặc có hợp đồng về tiền phạt vi phạm hợp đồng mà vẫn tiếp nhận thì thuộc lý do không đủ tư cách (欠格事由), và sẽ không được tiếp nhận trong 5 năm.
Trường hợp tuyển dụng có sự tham gia của cơ quan ở nước ngoài, Hướng dẫn vận dụng yêu cầu doanh nghiệp tiếp nhận xác nhận rằng người lao động đã hiểu số tiền và chi tiết các khoản chi phí bị thu, và việc thu được thực hiện sau khi người đó đồng ý. Trong buổi hướng dẫn trước (事前ガイダンス) dành cho lao động kỹ năng đặc định số 1, người lao động được giải thích rằng hợp đồng về tiền đặt cọc, tiền phạt vi phạm hợp đồng là trái pháp luật, và được xác nhận là không bị thu các khoản này.
Toàn bộ tiêu chuẩn đối với doanh nghiệp tiếp nhận được tổng hợp trong bài Visa Kỹ năng đặc định tại Nhật là gì? Khác biệt giữa số 1 và số 2, 19 lĩnh vực, điều kiện và thủ tục của doanh nghiệp tiếp nhận.
Nguồn: Lệnh của Bộ quy định tiêu chuẩn (上陸基準省令), điểm 2 và điểm 3, mục "Kỹ năng đặc định số 1"; Lệnh của Bộ quy định tiêu chuẩn đối với hợp đồng lao động kỹ năng đặc định và Kế hoạch hỗ trợ lao động kỹ năng đặc định số 1 (特定技能基準省令), Điều 2, khoản 1, điểm 6; Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Hướng dẫn vận dụng về tiếp nhận lao động kỹ năng đặc định" (tiếng Nhật; tháng 8/2026), Chương 4
Vì sao phần chi phí của doanh nghiệp tiếp nhận được quy định
Bản ghi nhớ hợp tác (MOC) giữa Nhật Bản và Việt Nam có mục đích là loại bỏ các tổ chức trung gian xấu và bảo vệ lao động kỹ năng đặc định. Trong số các hành vi mà hai nước chia sẻ thông tin, Bản ghi nhớ nêu việc thu các khoản phí không được pháp luật cho phép, và việc thu mà không làm cho người lao động hiểu số tiền và chi tiết các khoản.
Bối cảnh là gánh nặng chi phí trước khi sang Nhật. Trong khảo sát mà ISA hỏi trực tiếp 2.184 thực tập sinh kỹ năng từ tháng 12/2021 đến tháng 4/2022, chi phí đã trả cho cơ quan phái cử ở nước mình trung bình là 521.065 yên, riêng Việt Nam là 656.014 yên. Tỷ lệ người đã vay nợ ở nước mình trước khi sang Nhật, đối với Việt Nam, là 80,0%.
Bản ghi nhớ cũng đặt ra quy định đối với phía doanh nghiệp tiếp nhận. Theo đó, phía Việt Nam không cho phép phái cử lao động đến doanh nghiệp tiếp nhận đã đòi hoặc nhận tiền, vé máy bay, tiền khách sạn, chiêu đãi từ cơ quan phái cử hoặc người lao động (bản dịch tạm tiếng Nhật của ISA ghi là 「従業員」, tức "nhân viên") để đổi lấy việc tuyển dụng.
Nguồn: Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Bản ghi nhớ hợp tác với Việt Nam về kỹ năng đặc định (bản dịch tạm tiếng Nhật)" (tiếng Nhật), mục 1, 4(1), 7(1), "Về kết quả Khảo sát thực trạng về các khoản chi phí mà thực tập sinh kỹ năng đã trả" (tiếng Nhật)
Những điều cần kiểm tra trước khi ký hợp đồng
Trước tiên, hãy kiểm tra xem bên ký hợp đồng có phải là cơ quan phái cử đã được Chính phủ Việt Nam cấp phép hay không. ISA công bố danh sách cơ quan phái cử được cấp phép, cùng danh sách cơ quan bị thu hồi giấy phép và cơ quan bị tạm đình chỉ.
ISA cho biết, tùy thời điểm nhận được thông tin từ phía Việt Nam, nội dung đăng tải có thể chưa phải là mới nhất. Trước khi ký vào hợp đồng, nên xem lại một lần nữa cho yên tâm.
Việc cơ quan phái cử thực hiện cả khâu tuyển chọn người tìm việc được coi là giới thiệu việc làm (あっせん) theo Luật Ổn định việc làm (職業安定法). ISA hướng dẫn rằng, trong trường hợp đó, cần có giấy phép với tư cách đơn vị giới thiệu việc làm tại Nhật Bản. Đơn vị giới thiệu việc làm và cơ quan phái cử được cấp phép mà doanh nghiệp tiếp nhận sử dụng cũng được yêu cầu không vi phạm Luật Ổn định việc làm.
Khi nhận được dự thảo hợp đồng từ cơ quan phái cử, hãy kiểm tra các điểm sau trong các điều khoản.
- Mức phí phái cử và mức tiền lương cơ bản được dùng làm căn cứ
- Mức chi phí đào tạo (chi tiết phần ngoại ngữ và phần kỹ năng nghề) và cách xử lý vé máy bay
- Thời điểm thanh toán và tài khoản nhận chuyển khoản
- Số tiền và chi tiết các khoản chi phí mà người lao động trả cho cơ quan phái cử
Văn phòng chúng tôi cũng nhận tư vấn qua dịch vụ hỗ trợ hồ sơ visa Kỹ năng đặc định (dành cho doanh nghiệp tiếp nhận), ngay từ khâu kiểm tra xem các điều khoản hợp đồng do cơ quan phái cử đưa ra có khớp với hồ sơ phía Nhật Bản hay không.
Nguồn: Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Thông tin về Việt Nam" (tiếng Nhật), "Sơ đồ quy trình" (tiếng Nhật), chú thích 2
Trường hợp tuyển dụng người đang cư trú tại Nhật Bản
Trong quy trình thủ tục tiếp nhận công dân Việt Nam đang cư trú tại Nhật Bản theo diện Kỹ năng đặc định, không có hợp đồng cung ứng lao động. Theo hướng dẫn của ISA, thủ tục được tiến hành theo thứ tự: hợp đồng lao động, thủ tục xin Danh sách lao động kỹ năng đặc định tại Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản, hồ sơ xin cấp phép thay đổi tư cách cư trú (在留資格変更許可申請).
Các khoản chi phí tại Phụ lục II được quy định với tư cách là nội dung của hợp đồng cung ứng lao động. Văn phòng chúng tôi cho rằng, với cách tiếp nhận không ký hợp đồng này thì không có trường hợp nào để áp dụng các khoản đó.
Khi tiếp nhận lại từ Việt Nam người đã hoàn thành thực tập kỹ năng và đã về nước, quy trình sẽ là quy trình của trường hợp tiếp nhận mới. Doanh nghiệp ký hợp đồng cung ứng lao động và chịu phí phái cử cùng các khoản khác. Trong trường hợp này, mức trần tiền dịch vụ mà cơ quan phái cử được thu từ người lao động là 0 đồng.
Nguồn: Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Giải thích thủ tục" (tiếng Nhật), "Sơ đồ quy trình" (tiếng Nhật)
Câu hỏi thường gặp
Bản ghi nhớ hợp tác (MOC) có ghi mức phí phái cử không?
Không ghi. Nội dung mà Bản ghi nhớ quy định là phía Nhật Bản đưa vào bản hướng dẫn (guideline) nguyên tắc chia sẻ chi phí của doanh nghiệp tiếp nhận, và phía Việt Nam ban hành quy định về phí và chi phí. Các mức tiền như "1 tháng tiền lương cơ bản" nằm trong phụ lục của Thông tư của Việt Nam.
Vé máy bay khi về nước do ai chịu?
Nội dung mà Phụ lục II quy định là vé máy bay từ Việt Nam đến nơi làm việc. Chi phí về nước được quy định trong tiêu chuẩn Kỹ năng đặc định của Nhật Bản. Khi người lao động không thể tự chịu chi phí về nước thì doanh nghiệp tiếp nhận chịu (Điều 1, khoản 2, điểm 1 của Lệnh của Bộ quy định tiêu chuẩn đối với hợp đồng lao động kỹ năng đặc định và Kế hoạch hỗ trợ lao động kỹ năng đặc định số 1 (特定技能基準省令)).
Lao động phát triển kỹ năng có cùng quy định không?
Là quy định khác. Với Lao động phát triển kỹ năng (育成就労, Ikusei Shūrō; sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2027), đã có quyết định rằng mức trần chi phí mà cơ quan phái cử được thu từ người lao động là không quá 2 tháng lương. Toàn bộ chế độ được tổng hợp trong bài giải thích về Chế độ Lao động phát triển kỹ năng.
Tóm tắt
Hợp đồng cung ứng lao động là hợp đồng mà doanh nghiệp tiếp nhận mới lao động kỹ năng đặc định từ Việt Nam ký với cơ quan phái cử được cấp phép. Doanh nghiệp tiếp nhận chịu phí phái cử (tối thiểu 1 tháng tiền lương cơ bản), vé máy bay từ Việt Nam và chi phí đào tạo (tối thiểu 50.000 yên cho ngoại ngữ và 50.000 yên cho kỹ năng nghề). Các mức tiền này căn cứ vào Phụ lục II của Thông tư 09/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 30/6/2026.
Trước khi ký hợp đồng, hãy kiểm tra trên danh sách của ISA xem bên ký hợp đồng có phải là cơ quan phái cử được cấp phép hay không. Khi nhận được dự thảo hợp đồng, hãy kiểm tra trong các điều khoản mức tiền lương cơ bản được dùng làm căn cứ tính phí phái cử, chi tiết chi phí đào tạo và số tiền chi phí mà người lao động phải trả.
Tài liệu tham khảo
- Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Thông tin về Việt Nam" (tiếng Nhật)
- Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Về quy trình thủ tục liên quan đến lao động kỹ năng đặc định Việt Nam (Sơ đồ quy trình)" (tiếng Nhật)
- Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Quy trình thủ tục cho đến khi tiếp nhận công dân Việt Nam làm lao động kỹ năng đặc định (Giải thích thủ tục)" (tiếng Nhật)
- Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Bản ghi nhớ hợp tác với Việt Nam về kỹ năng đặc định (bản dịch tạm tiếng Nhật)" (tiếng Nhật; ký tháng 5/2019)
- Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Hướng dẫn vận dụng về tiếp nhận lao động kỹ năng đặc định" (tiếng Nhật; tháng 8/2026)
- Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Về kết quả Khảo sát thực trạng về các khoản chi phí mà thực tập sinh kỹ năng đã trả" (tiếng Nhật)
- Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh và cư trú, "Hỏi đáp về Chế độ Lao động phát triển kỹ năng" (tiếng Nhật), Q74
- Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, "Đăng tải bản dịch tạm tiếng Nhật của các văn bản pháp luật liên quan đến "Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng"" (tiếng Nhật; Luật số 69/2020/QH14, Thông tư số 21/2021/TT-BLĐTBXH, bảng so sánh cũ – mới của Thông tư 02/2024)
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (Hệ thống văn bản), "Thông tư số 09/2026/TT-BNV" (ngày 15/5/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 30/6/2026; tiếng Việt)
- Báo Điện tử Chính phủ, "Thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng" (ngày 24/8/2026; tiếng Việt)
- Lệnh của Bộ quy định tiêu chuẩn (上陸基準省令:Lệnh của Bộ Tư pháp quy định tiêu chuẩn theo Điều 7, khoản 1, điểm 2 Luật Quản lý xuất nhập cảnh và công nhận người tị nạn), điểm 2 và điểm 3, mục "Kỹ năng đặc định số 1"
- Lệnh của Bộ quy định tiêu chuẩn đối với hợp đồng lao động kỹ năng đặc định và Kế hoạch hỗ trợ lao động kỹ năng đặc định số 1 (特定技能基準省令), Điều 1, khoản 2, điểm 1 và Điều 2, khoản 1, điểm 6




